CÁCH TRỊ BỆNH KÊNH MANG (SÁN LÁ) TRÊN CÁ KOI.

CÁCH TRỊ BỆNH KÊNH MANG (SÁN LÁ) TRÊN CÁ KOI.
Bệnh kênh mang, đây là một bệnh lây truyền giữa người, gia súc, gia cầm và cá do ấu trùng sán lá Centrocestus fomorsanus gây ra.
Sán lá C. fomorsanus có vòng đời như sau: Sán trưởng thành có kích thước nhỏ thường sống ở ruột chim (ăn cá), chuột, rắn, vịt, gà, ngan, chó, mèo, thậm chí cả người. Sán đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài vào môi trường nước trứng nở thành ấu trùng (Miracidium), ấu trùng tìm đến ký sinh vào ốc (Melanoides tuberculata), tại ốc ấu trùng sinh sản vô tính thành (Redia), sau đó ấu trùng rời ốc (Cercariae) tìm đến nhiễm trên mang cá. Tại mang cá ấu trùng nằm sâu trong tơ mang hình thành bọc (Metacercariae) khi nhiễm nhiều làm trương phồng các tơ mang gây kênh nắp mang. Khi ấu trùng ký sinh ở mang cá, chúng sẽ cạnh tranh dinh dưỡng làm cá chậm lớn, gây cản trở quá trình hô hấp của cá nên khi cá nhiễm ấu trùng thường bơi lờ đờ trên bề mặt, quanh bờ và nhiễm nhiều gây chết cá đặc biệt ở những ao ương dày vào những ngày thời tiết thay đổi.
Do ấu trùng sán nằm trong bọc ở các tơ mang nên hầu hết các hóa chất thông thường dùng để diệt ký sinh trùng cá như formaline, sulphát đồng, muối ăn, thuốc tím thậm chí thử nghiệm cả hóa chất cấm như xanh malachite dùng ở các nồng độ ngâm, tắm, nhúng và thử nghiệm ở cả nồng độ cao nhưng đều không diệt được ấu trùng. Để điều trị bệnh kênh mang nhóm nghiên cứu của Bộ môn Môi trường và Bệnh Thủy sản – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thử nghiệm dùng thuốc diệt sán lá gan, lá ruột chuyên dùng là Praziquantel, kết quả cho thấy Praziquantel có hiệu quả diệt ấu trùng sán lá C fomorsanus. Tuy nhiên, để điều trị hiệu quả bệnh kênh mang trên cá koi cần lưu ý rằng Praziquantel có mùi đặc trưng, nếu trộn vào thức ăn với liều cao thì cá không ăn thức ăn nên hiệu quả điều trị kém. Do đó, cần điều trị với liệu trình cho ăn 3-5 ngày với liều lượng thuốc 50-75mg/kg thức ăn và cho cá ăn 10-15% trọng lượng cơ thể. Trong 1-2 ngày đầu trộn thuốc cá ăn ít, sau ăn tăng dần. Sau điều trị 2-3 ngày biểu hiện kênh mang sẽ giảm (nắp mang khép kín lại) cá hoạt động nhanh nhẹn trở lại, tại mang các ấu trùng bị tiêu diệt.
Cơ chế tác dụng: Praziquantel được sán hấp thu nhanh làm tăng tính thấm của màng tế bào dẫn đến mất canxi nội bào, làm co cứng và tê liệt hệ cơ của sán nhanh chóng. Khi giun sán đã ngấm thuốc Praziquantel, vùng da ở phần cổ của sán trưởng thành xuất hiện các mụn nước, sau đó chúng bị vỡ ra tạo thành những vết thương không thể phục hồi. Praziquantel cũng gây ra các không bào ở nhiều nơi trên da sán và sau đó phân hủy làm sán bị tiêu diệt nhanh chóng. Sán và ấu trùng sẽ chết trong vòng 4 giờ sau khi sử dụng thuốc. Praziquantel được hấp thụ nhanh vào trong cơ và các cơ quan nội tạng của cá sau 30 phút điều trị. Đặc biệt là Praziquantel bị phân hủy sinh học nhanh, không tồn lưu trong các mô, cơ của cá sau 24-48 giờ điều trị. Do vậy sử dụng Praziquantel rất an toàn, không không gây hại cho cá và môi trường nuôi, không ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng cũng như môi trường sống xung quanh.
Cần lưu ý khi trộn thuốc Praziquantel vào thức ăn cần có chất bám dính để thuốc không tan vào nước trước khi vào cơ thể cá. Có thể dùng chất kết dính Omega Gell để tăng độ kết dính thuốc và cám.
Đánh giá

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

error: Content is protected !!
Hotline: 0973 000 604
Chat Zalo
Call: 0973 000 604